Thử nghiệm #1. Một cách quan sát tối giản hơn về Psychosophy
Tôi không nghĩ cuối cùng có ngày bài viết này ra đời ngay trong một buổi chiều. Vì ai đọc các bài viết của tôi cũng sẽ biết tôi không cổ vũ lắm việc phân loại tính cách.
Thực ra, hành trình bắt đầu từ năm ngoái, khi tôi tình cờ biết đến Attitudinal Psyche – một hệ thống phân loại được phát triển dựa trên Psychosophy của Alexander Afanasiev. Tôi đã cố gắng đọc gần như mọi tài liệu mình tìm được, từ Attitudinal Psyche, BestSocionics, các bài viết cộng đồng và các bản tóm lược về Syntax of Love, để tự phân loại bản thân (thật ngại khi phải thú nhận điều này) — Tôi không thích các bài kiểm tra — Tôi đơn giản là không tin vào các bài kiểm tra.
Cuối cùng, tôi đi đến một kết quả mà mình khá chắc chắn: LEVF. Dù vậy, có điều gì đó khiến tôi không thực sự “tự tin” về kết quả, nghe thật mâu thuẫn, do vậy tôi đã không mảy may nghĩ đến việc sẽ viết gì về nó. Cho đến hôm nay, thật bất ngờ, cảm hứng đã đến và mọi thứ có lẽ là đã “đủ chín” với tôi, ở thời điểm này, để thúc đẩy tôi viết ngay bài này.
Nếu bạn tò mò về kết quả phân loại của tôi có thay đổi hay không, có lẽ sẽ có câu trả lời ở cuối bài (nếu tôi không đổi ý hahaha).
Vậy mục tiêu của tôi ở bài viết này là gì?
Tôi không phải chuyên gia về Psychosophy. Có lẽ vì vậy mà tôi cũng không bị ràng buộc quá nhiều bởi các thuật ngữ và cách diễn giải sẵn có.
Điều khiến tôi băn khoăn suốt một thời gian dài không phải là kết quả phân loại, mà là cách giải thích đằng sau nó. Tôi luôn có cảm giác mình đang nhìn thấy một hiện tượng thú vị nào đó, nhưng chưa tìm được một bộ ngôn ngữ khiến bản thân thực sự cảm thấy thỏa đáng để mô tả nó.
Vì vậy, trong chuyên đề này, tôi xin phép các tác giả được diễn giải lại Psychosophy bằng một bộ ngôn ngữ bình dân hơn, gần với hiện tượng đời sống hơn, và tạm thời đặt sang một bên những lớp triết học hay các hệ quy chiếu tâm lý học khác trong khả năng của mình.
Vào việc.
■ Psychosophy đang mô tả hiện tượng gì?
Nếu bạn từng tìm hiểu Psychosophy, có lẽ bạn sẽ biết rằng hệ thống này có một lượng khái niệm khá lớn: bốn khía cạnh, bốn hàm chức năng, hai trục phân loại, hai mươi bốn nguyên mẫu cùng rất nhiều đặc tính được dùng để mô tả từng vị trí hàm.
Nếu phải tạm gác tất cả những khái niệm đó sang một bên, tôi sẽ thử diễn đạt hiện tượng mà hệ thống này đang hướng đến bằng một câu đơn giản hơn:
Cách Tôi nghĩ mình là ai khi tham gia vào các lĩnh vực đời sống.
Và nếu đó thực sự là hiện tượng đang được mô tả, thì thay vì bắt đầu từ các nguyên mẫu hay đặc tính có sẵn, tôi muốn thử quan sát những gì có thể nhìn thấy trực tiếp hơn: Tôi thường trao đổi điều gì, tiếp nhận hay tạo ra nội dung và đang xem vai trò của mình là gì trong những nội dung đó. Phương pháp này giống như đặt một chiếc kính lúp lên soi quá trình luân chuyển thông tin giữa Tôi với người khác.
Vậy trong Psychosophy, các thông tin đang được xem xét thuộc về lĩnh vực đời sống nào? Bao hàm các nội dung gì?
-
Nhận thức (L)
→ nơi Tôi đối diện với tri thức, sự thật và cách mình hiểu thế giới.
Thường xuất hiện dưới dạng: kiến thức, lập luận, ý kiến, quan điểm, sự thật, hiểu biết... -
Vật chất (F)
→ nơi Tôi đối diện với cơ thể, tài sản và sự hiện diện của mình trong
thực tại.
Thường xuất hiện dưới dạng: cơ thể, sức khỏe, ngoại hình, gu, phong cách, hình ảnh cá nhân, tài sản, không gian sống... -
Ý chí Hành động (V)
→ nơi Tôi đối diện với quyền lựa chọn, khả năng tác động và quyền tự
quyết của bản thân.
Thường xuất hiện dưới dạng: mục tiêu, tham vọng, lựa chọn, định hướng, trách nhiệm, quyền hạn... -
Tinh thần (E)
→ nơi Tôi đối diện với cảm xúc, ý nghĩa và sự kết nối giữa con người với
con người.
Thường xuất hiện dưới dạng: cảm xúc, tâm trạng, sự rung cảm, đồng điệu, bầu không khí, các mối quan hệ...
Lưu ý: Trong bài viết này, tôi sử dụng các tên gọi Nhận thức, Vật chất, Ý chí Hành động và Tinh thần nhằm nhấn mạnh các lĩnh vực đời sống mà cái Tôi đang tham gia và tự nhìn nhận bản thân mình. Các ký hiệu L, F, V và E vẫn được giữ lại để thuận tiện khi tham chiếu tới Psychosophy nguyên bản.
Các nội dung liệt kê trên đây chỉ mang tính chất tiêu biểu. Tôi đang suy nghĩ về việc viết thêm một phụ lục chi tiết hơn về các nội dung trong từng lĩnh vực đời sống.
Quay lại với lý thuyết, cách hình thành một phân loại là sắp xếp bốn chữ cái E, F, L và V theo những thứ tự khác nhau. Vì vậy Psychosophy có đến 24 phân loại! (EVFL, EFVL, VFLE…) Điều này thật tuyệt vời với những ai cảm thấy muốn cá nhân hoá nguyên mẫu nhiều hơn con số 8 hay 16.
Nếu nhìn vào hình trên, có thể bạn sẽ tự hỏi: vì sao Nhận thức (L) lại nằm ở vị trí “Tiếp nhiên liệu”, còn Tinh thần (E) lại trở thành “Kẻ bày trò”? Hoặc điều gì khiến cùng là lĩnh vực đời sống Vật chất (F) nhưng khi đứng ở những vị trí khác nhau lại mang những vai trò khác nhau?
Đó chính là lúc chúng ta cần đến hệ thuộc tính của mô hình.
Nhưng khoan đã.
Tôi cần nhắc lại rằng, các thuộc tính bên dưới không phải cách giải thích chính thức của Psychosophy. Chúng là một giả thuyết tôi đang thử nghiệm. Nên nếu bạn đã từng đọc Psychosophy trước đây, có thể bạn sẽ thấy một số khái niệm quen quen nhưng cách kết nối giữa chúng sẽ hơi khác.
Trong cách diễn giải này, mỗi vị trí được gán với hai thuộc tính độc lập:
- Tôi có thường xuyên SUY XÉT Lĩnh vực này hay không?
- Khi trao đổi nội dung trong Lĩnh vực đó, Tôi có xu hướng KIẾN TẠO hay TIẾP NHẬN nhiều hơn?
Để dễ hình dung hai thuộc tính trên, hãy thử nhìn hai ví dụ đời thường sau:
Tôi có một người bạn là Steve — một công dân rất ít nói — cảm giác khờ khạo vì sự nhân từ của anh ấy. Steve thường chia sẻ với tôi về việc anh ấy có thể hiểu được “cảm xúc” đằng sau lời nói và hành động của mọi người. Vì “hiểu” được nên anh ấy hiếm khi cảm thấy tự ái hay đang bị chỉ trích, từ đó anh ấy khéo léo lựa chọn từ ngữ phù hợp để ứng tác với đối phương. Và rồi khi được hỏi điều gì mà anh ấy cảm thấy mình cung cấp tốt nhất cho mọi người? Câu trả lời thật bất ngờ: sự thoải mái, thấu hiểu và đồng cảm.
Tôi có một người dì khác là Momie — một quý bà hoạt ngôn — giao tiếp dường như là lĩnh vực khiến dì tự hào nhất. Bất kể là đi đến đâu, trên xe, đi khám bệnh, dì luôn bắt chuyện với người bên cạnh, thậm chí còn khoe với tôi rằng dì được mệnh danh là “hoa khôi hoà đồng” trong phòng bệnh. Tuy không nói ra, nhưng tôi thấy trong ánh mắt dì ánh lên sự hạnh phúc khi thấy mọi người ai cũng quý mến, cũng nghe theo lời khuyên của dì.
Ở cả hai ví dụ trên, tuy một kẻ rất ít nói, một người lại cực kỳ hoạt ngôn, tôi lại thấy ở họ có một điểm chung lạ kỳ: Không chỉ Thường xuyên suy xét (High-Considered) về bầu không khí, cảm xúc và sự biểu đạt, họ còn chủ động điều chỉnh, phát triển hoặc tạo ra một bầu không khí khác trong cuộc trò chuyện theo cách của riêng họ.
Dù ở ví dụ của Steve bạn sẽ không thấy anh ấy “tự phát” ra nhiều, nhưng đó là dụng ý của tôi. Khác với Momie, người thích tương tác trực tiếp với nhiều người và cả người lạ, Steve thường bộc lộ mặt này trong những cuộc trò chuyện riêng tư hơn. Chính trong các không gian kết nối 1-1 ấy, xu hướng điều chỉnh, dẫn dắt và phát triển nội dung cảm xúc của anh ấy mới lộ rõ. Tôi gọi khuynh hướng này là Kiến tạo nội dung (Generative-Oriented)
Trái lại, có một người bạn khác trong nhóm – Ethanne – một cô gái thẳng
thắn, hóm hỉnh, duyên dáng. Thoạt nhìn, cô ấy trông như một người hoạt náo
viên vô tư vì những ý tưởng tinh nghịch bộc phát của mình. Nhưng sau các
tương tác, cô ấy dường như dễ rơi vào một vòng lặp kiểm tra với sự nhạy
cảm của mình. Cô ấy để ý để sự im lặng, sự phản ứng của đối phương và bối
rối với chúng, cô ấy tự hỏi liệu họ có hiểu lầm mình không, có ghét mình
không? Mình có vô duyên không, có lỡ lời gay gắt quá không?
Thậm chí cô ấy cho rằng “mối quan hệ tốt đẹp đã rạn nứt, chị ấy không còn
yêu thương tớ nữa” vì loạt hành vi của đối phương khiến cô ấy cảm thấy như
vậy. Ôi Ethanne đáng thương của tôi!
Bạn nhận ra chứ? Tại lĩnh vực tinh thần, Ethanne Thường xuyên suy xét (High-Considered). Nhưng khác với Steve hay Momie, sự chú ý của cô ấy không nằm ở việc tạo ra hay dẫn dắt bầu không khí. Thay vào đó, cô ấy liên tục mang những phản ứng đó vào bản thân. Sự im lặng, khoảng cách hay phản ứng của đối phương dễ trở thành chất liệu cho quá trình tự vấn. Tôi tạm gọi khuynh hướng này là Tiếp nhận nội dung (Receptive-Oriented).
Đến đây có lẽ bạn sẽ thấy hơi khó chịu. Steve cũng quan sát phản ứng người
khác. Ethanne cũng có lúc chủ động tạo ra bầu không khí. Vậy tại sao tôi
lại xếp họ vào hai nhóm khác nhau?
Đó là vì hai thuộc tính trên chưa nói cho chúng ta biết đối tượng đang ứng
xử với nội dung đó như thế nào. Và đó là lúc thuộc tính thứ ba xuất hiện.
Trước khi nói đến thuộc tính thứ ba, hãy tạm nhìn qua cách bốn vị trí của Psychosophy được sắp xếp theo hai thuộc tính này.
| Vị trí 1 Chữ cái 1 |
Vị trí 2 Chữ cái 2 |
Vị trí 3 Chữ cái 3 |
Vị trí 4 Chữ cái 4 |
|---|---|---|---|
| Hiếm khi suy xét | Thường xuyên suy xét | Thường xuyên suy xét | Hiếm khi suy xét |
| Xu hướng kiến tạo | Xu hướng kiến tạo | Xu hướng tiếp nhận | Xu hướng tiếp nhận |
■ Tôi đang ĐẶT MÌNH ở đâu trước nội dung đó?
Với mỗi nội dung xuất hiện trong quá trình tương tác giữa người với người — đó có thể là cảm xúc, kiến thức, quan điểm, niềm tin, sở thích hay mong muốn — ta có thể quan sát được Cái Tôi đang đặt bản thân mình ở vị trí nào trước nội dung đó.
Diễn giải thuật ngữ
(1) High-Considered: Xuất hiện vòng lặp đánh giá, đối chiếu hoặc điều chỉnh.
(2) Low-Considered: Đối tượng thường để quá trình vận hành tự nhiên mà không liên tục đánh giá lại.
(3) Generative-Oriented: chủ động tạo ra, phát triển hoặc tái cấu trúc nội dung theo cách hiểu của riêng mình.
(4) Receptive-Oriented: tiếp nhận, sử dụng hoặc tham khảo nội dung đến từ bên ngoài.
Bạn có thể thấy Steve khách quan hoá (Objectification) các phản ứng của đối phương, xem chúng như một đối tượng để quan sát, cân nhắc và ứng xử lại theo hướng anh ấy muốn điều chỉnh. Trong khi Ethanne lại đang cá nhân hoá (Internalization) các phản ứng ấy, khiến cô ấy dễ rơi vào những vòng lặp tự vấn bản thân.
Ta cần thêm hai ví dụ khác để quan sát lĩnh vực Tinh thần khi trú ngụ tại vị trí số 1 và vị trí số 4 sẽ được biểu hiện như thế nào.
Đầu tiên, hãy làm quen với Beth – cháu gái của tôi. Cô bé dường như là một
người hiếm khi biểu đạt cảm xúc, và cũng ít khi có người nhận thấy cô bé
đang buồn hay vui một cách rõ ràng. Kể cả khi vừa mới bị mắng xong, cô bé
sẽ ẩn mình trong chăn và khóc vì xấu hổ. Nhưng khi bước ra ngoài, nếu có
người an ủi hay chọc cười, cô bé sẽ lập tức cười lại ngay.
Tôi cũng đã nhiều lần lo lắng và thử trò chuyện để hiểu tâm lý cô bé hơn,
vì đây là độ tuổi mà các hormone đang bắt đầu nổi loạn. Nhưng càng lắng
nghe, tôi càng có cảm giác rằng lĩnh vực cảm xúc của Beth không được suy
xét quá nhiều và rất dễ thuận theo bầu không khí xung quanh.
Ngược lại, người chị của tôi – Phoebe – lại là một điển hình của lĩnh vực
Tinh thần số 1. Yêu–ghét rất rõ ràng. Khi thích ai, từ sự quan tâm cho đến
cách biểu đạt, ai cũng có thể nhận ra. Còn khi không thích ai, người đó
gần như biến mất khỏi thế giới của chị ấy. Chị không muốn nhìn, không muốn
nói chuyện và cũng không thấy có lý do gì phải giả vờ ngược lại. Phoebe có
một tuyên ngôn rất rõ ràng về chuyện này: không ai có quyền yêu cầu chị ấy
phải yêu ai hay ghét ai.
Tôi lại nhớ đến cô bạn Jade, im lặng hơn Phoebe rất nhiều, cũng chiếm lĩnh
Tinh thần số 1. Có một người bạn chung từng than phiền với tôi rằng cô ấy
cảm thấy bức bối khi nhìn thấy gương mặt ủ dột của Jade. Nhưng dù cho ai
nói gì đi nữa, Jade vẫn sẽ không thay đổi vì người khác. Đơn giản là cô ấy
đang buồn. Tại sao phải chống đối cảm xúc của chính mình?
Bạn sẽ thấy với Phoebe hay Jade, họ đều Sở hữu hoá (Appropriation) tinh thần của chính mình. Điểm chung không nằm ở việc họ vui hay buồn nhiều hơn người khác, mà ở chỗ họ xem những cảm xúc ấy là của mình và không cần môi trường xác nhận chúng.
Còn Beth thì khác. Cô bé dường như để cảm xúc của mình thuận theo bầu
không khí xung quanh hơn là giữ lấy nó như một thứ cần được bảo vệ hay
khẳng định. Tôi gọi khuynh hướng này là
Uỷ thác hoá (Entrustment).
Nghe có vẻ kỳ lạ, bởi cảm xúc không phải thứ ngoài thân để có thể thực sự
uỷ thác cho ai khác. Nó rất cá nhân và rất nguyên thuỷ. Vì vậy ở đây, uỷ
thác hoá không mang nghĩa như một thủ tục hành chính, mà là trạng thái bạn
không muốn nhận lấy trách nhiệm suy xét về lĩnh vực ấy quá nhiều. Chỉ cần
bầu không khí xung quanh thay đổi, bạn sẽ dễ dàng hấp thu và thuận theo
nó.
Những ví dụ trên không xuất hiện chỉ sau một cuộc trò chuyện hay một vài lần gặp gỡ. Steve, Ethanne, Phoebe, Jade hay Beth đều là những người tôi đã quen biết và quan sát trong một khoảng thời gian khá dài, tất cả đều tính bằng nhiều năm.
Đó cũng là lý do tôi không nghĩ việc phân loại nên được thực hiện từ một lát cắt đơn lẻ. Ai rồi cũng có lúc buồn hơn thường ngày, chủ động hơn thường ngày hay nhạy cảm hơn thường ngày. Còn mẫu hình sẽ dần hiện ra sau nhiều lần tương tác. Giống như ghép từng mảnh nhỏ lại với nhau cho đến khi bức tranh bắt đầu đủ rõ để nhận ra.
Trong các nguyên mẫu Psychosophy, tôi từng đọc thấy một số loại được mô tả
là "cực đoan" hơn những loại khác. Điều này khiến tôi suy nghĩ khá nhiều
về cách chúng ta nhìn nhận các nguyên mẫu, bởi cách tiếp cận đó vừa có
tính phiến diện, vừa có tính nhân đạo.
Phiến diện ở chỗ: nó dễ khiến chúng ta nhìn một con người thông qua một
vài đặc điểm nổi bật rồi kết luận về họ.
Nhân đạo ở chỗ: nó nhắc nhở rằng những hành vi ấy không xuất hiện từ hư
không. Chúng là kết quả của một cấu trúc tâm lý nhất định đang vận hành
phía sau.
Nhưng chính vì các nguyên mẫu chỉ mô tả cấu trúc nền, nên chúng nên được hiểu như những xu hướng có cường độ biến thiên thay vì những chiếc công tắc bật–tắt. Điều đó cũng có nghĩa là chúng không thể phản ánh trọn vẹn cách cấu trúc ấy được biểu hiện ở từng cá nhân cụ thể.
Ví dụ, hai người cùng mang E2 đều có xu hướng thường xuyên suy xét và kiến tạo nội dung trong lĩnh vực Tinh thần. Tuy nhiên, Steve có thể nổi bật ở mặt suy xét hơn: liên tục quan sát phản ứng của người khác, đọc bầu không khí và điều chỉnh cách biểu đạt của mình. Trong khi đó, dì Momie lại nổi bật ở mặt kiến tạo hơn: thích khởi phát tương tác, tạo cảm xúc và kết nối mọi người.
Cũng có những người biểu hiện mạnh ở cả hai mặt, khiến lĩnh vực đó trở thành một phần rất nổi bật trong cuộc sống của họ. Ngược lại, có những người biểu hiện nhẹ nhàng hơn nhiều, khiến lĩnh vực ấy tuy hiện diện nhưng không thực sự chi phối trải nghiệm sống của họ.
Và đó mới chỉ là một phần của câu chuyện. Trong thực tế, các vị trí không tồn tại một cách cô lập mà luôn tương tác với nhau. Vì vậy, cùng là E2 nhưng E2 của một người có thể mang màu sắc khác với E2 của người khác do ảnh hưởng từ những vị trí còn lại trong cấu trúc. Điều này tạo ra thêm nhiều sắc thái mà một nguyên mẫu đơn lẻ không thể mô tả hết.
Nếu nhìn lại một lần nữa, có lẽ bạn sẽ nhận ra rằng bốn thuộc tính trên không chỉ cho thấy cách một người ứng xử với nội dung. Chúng còn hé lộ cách Cái Tôi đang tự định vị mình trước Thế giới thông qua lĩnh vực ấy.
Có người xem nhận định của mình là thứ không cần ai xác nhận thêm. Có người lại dành rất nhiều thời gian để quan sát, cân nhắc và điều chỉnh chúng. Có người sẵn sàng chăm lo cho nhu cầu vật chất của cả những người xung quanh. Có người lại cảm thấy nhẹ nhõm hơn khi được tham khảo ý kiến của một người mà họ tin tưởng.
Nói cách khác, đây không chỉ là câu chuyện về cảm xúc, tri thức, cơ thể hay ý chí. Mà còn là câu chuyện về nơi Cái Tôi cảm thấy mình có vị trí, có tiếng nói và có sức nặng trong thế giới. Và đó cũng chính là ý tưởng nền tảng mà Psychosophy-NF đang cố gắng mô tả.
Đến đây, tôi nghĩ mình đã trình bày xong phiên bản đầu tiên của chiếc kính lúp này. Nó có thể còn nhiều thiếu sót, nhưng ít nhất cũng đủ để bắt đầu quan sát xem điều gì thực sự đang diễn ra giữa Tôi, Nội dung và Người khác.
Còn về kết quả phân loại của tôi? Có lẽ tôi sẽ để dành nó cho một bài viết khác. Sau tất cả những gì vừa nói, tôi cũng không còn nhìn nó theo cách của vài tháng trước nữa. Hoặc biết đâu đến lúc đó tôi lại đổi ý? LMAO